Giấy chứng nhận bào chữa: “điểm nghẽn” cần tháo gỡ

By 22/12/2013TIN TỨC

Chủ tịch Liên đoàn luật sư đã có văn bản đề nghị Ban soạn thảo BLTTHS (sửa đổi) cân nhắc, mạnh dạn bãi bỏ thủ tục này. Các nước trên thế giới đều không quy định thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa.

Sau loạt bài phản ánh thực trạng luật sư bị “làm khó”, tòa soạn nhận được bài viết của luật sư Phan Trung Hoài, Chủ nhiệm Ủy ban bảo vệ quyền lợi luật sư Liên đoàn luật sư Việt Nam và luật sư Đinh Văn Thảo, Phó Chủ tịch Hội đồng khen thưởng – kỷ luật Đoàn Luật sư TP.HCM. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Những cản ngại, vướng mắc trong thủ tục cấp, từ chối cấp giấy chứng nhận người bào chữa đã được Pháp Luật TP.HCM nêu rõ trong những bài báo vừa qua. Đây chính là “điểm nghẽn” đầu tiên hạn chế quyền bào chữa và nhờ người khác bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, cũng như cản ngại đến quyền hành nghề của luật sư.

Những điểm cần quy định rõ

Nguyên nhân của vướng mắc, khó khăn, bên cạnh nhận thức và thái độ của cơ quan điều tra, điều tra viên đối với người bào chữa còn xuất phát từ sự chưa rõ ràng trong việc người bị tạm giữ, tạm giam nhờ người bào chữa trực tiếp với việc người thân thích hoặc người khác có thể mời người bào chữa cho họ.

Thông tư 70 ngày 10-10-2011 của bộ trưởng Bộ Công an quy định người bị tạm giữ, bị can có thể làm văn bản đề nghị: người bào chữa là người đại diện hợp pháp, nhờ luật sư hoặc nhờ người thân liên hệ luật sư. Tuy nhiên, trường hợp họ không biết chữ để viết yêu cầu nhờ luật sư hoặc không có người thân thích để liên hệ nhờ luật sư thì có thể ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền nhờ người khác bào chữa của họ. Khi lấy ý kiến người bị tạm giữ, bị can thường chỉ có điều tra viên, không có mặt luật sư hoặc đại diện gia đình họ nên hoàn toàn không biết ý chí của người bị tạm giữ, bị can khi từ chối người bào chữa là tự nguyện hay bị ép buộc.

luat-su-tranh-tung

Cần tạo điều kiện thông thoáng trong việc cấp giấy chứng nhận bào chữa để luật sư dễ dàng tham gia suốt quá trình tố tụng. Ảnh: HTD

Với thủ tục tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận người bào chữa, Thông tư 70 quy định có thể nộp trực tiếp hoặc nộp qua đường bưu điện. Có một thực tế là khi trình thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận tại cơ quan điều tra, không có quy định nộp cho văn phòng cơ quan điều tra, thủ trưởng hay điều tra viên. Bản thân tôi khi đến trình thủ tục tại Cơ quan CSĐT Bộ Công an cũng thường không được tiếp nhận và cán bộ tiếp dân hướng dẫn phải gửi bằng đường bưu điện. Đó là chưa kể khi có khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận thì việc giải quyết thường kéo dài, đến khi luật sư được cấp giấy thì có khi vụ án đã kết thúc điều tra.

Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi) vẫn duy trì thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa nhưng xuất phát từ thực trạng nêu trên, chủ tịch Liên đoàn luật sư đã có văn bản đề nghị Ban soạn thảo BLTTHS (sửa đổi) cân nhắc, mạnh dạn bãi bỏ thủ tục này. Nếu tháo gỡ được, BLTTHS không chỉ đề cao địa vị pháp lý của người bào chữa mà còn mở ra những giải pháp mang tính đột phá nhằm tháo gỡ vướng mắc, bất cập trong cách thức yêu cầu và bảo đảm thực hiện quyền bào chữa. Thực tế hầu như tất cả các nước trên thế giới và ngay trong BLTTHS năm 2012 của Trung Quốc cũng không quy định thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa như ở nước ta.

Hai hướng tham gia

Trong trường hợp đề xuất trên được chấp nhận, tôi xin đề nghị cách thức và trình tự tham gia của luật sư trong án hình sự như sau:

Thứ nhất là trường hợp luật sư tham gia theo yêu cầu của khách hàng: Khi có yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can hoặc người thân thích của họ, luật sư chỉ cần trình thẻ luật sư, giấy yêu cầu nhờ luật sư, liên hệ đến cơ quan điều tra nơi thụ lý vụ án để đăng ký tham gia tố tụng.

Cơ quan điều tra có trách nhiệm thông báo đến nhà tạm giữ, trại tạm giam về sự tham gia của luật sư, cập nhật thông tin trong hồ sơ giam giữ. Khi có nhu cầu làm việc với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, luật sư chỉ cần xuất trình hai loại giấy tờ trên tại bộ phận thủ tục gặp mặt tại trại tạm giam. Sau đó, giám thị căn cứ thông tin cập nhật từ cơ quan điều tra, trực tiếp giải quyết cho luật sư gặp mặt mà không cần phải có sự phê duyệt của cơ quan điều tra hay sự chấp thuận của điều tra viên.

Thứ hai, đối với trường hợp bắt buộc phải chỉ định người bào chữa hoặc thuộc trường hợp được hưởng sự trợ giúp pháp lý, luật sư chỉ cần xuất trình thẻ luật sư, văn bản yêu cầu luật sư chỉ định của cơ quan tố tụng hoặc văn bản phân công của trung tâm trợ giúp pháp lý để làm thủ tục gặp mặt người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Để thủ tục này được thông suốt, bên cạnh việc bỏ cấp giấy chứng nhận người bào chữa, cơ quan điều tra và nhà tạm giữ, trại tạm giam cần có cơ chế, mạng thông tin kết, mở sổ đăng ký về sự tham gia tố tụng của luật sư.

Cạnh đó cũng cần bố trí phòng làm việc của luật sư với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo riêng biệt. Cơ quan chức năng có thể quan sát nhưng không được ghi âm, ghi hình để đảm bảo quyền được gặp mặt và trao đổi riêng tư giữa luật sư với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Quyền hiến định cần tôn trọng

Quyền bào chữa là quyền Hiến định, là một quyền tự do dân chủ trọng yếu trong các quyền tự do dân chủ của công dân, trở thành một nguyên tắc tố tụng căn bản cần được tôn trọng và triệt để thực hiện. Xâm phạm đến quyền bào chữa thì không thể nào thực hiện được các quyền tự do dân chủ khác, mặc nhiên thủ tiêu các quyền tự do đó. Hơn nữa, chế độ bào chữa là chế độ trọng yếu trong tố tụng, giúp công tác xét xử toàn diện và khách quan, chính xác, bênh vực được quyền lợi hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bảo vệ pháp luật nhà nước. Có thể nói nếu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không được sử dụng đầy đủ quyền bào chữa thì không gọi là có công lý.

Mặt khác, cần nhận thức ý nghĩa sâu sắc trong quy định tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2013): “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Nếu xác định quyền nhờ luật sư là quyền hiến định thì đương nhiên những người bị đặt trong vòng tố tụng phải được tiếp cận với luật sư, đồng thời luật sư phải được quyền tiếp cận với đương sự ngay từ đầu và trong suốt các giai đoạn tố tụng hình sự…

PHAN TRUNG HOÀI

Nguồn: phapluattp.vn